Bộ TNMT: Ghi tên cả gia đình trong sổ đỏ không gây khó, giảm rủi ro

Liên quan đến tài liệu bổ sung thêm đối tượng là “các thành viên còn lại trong hộ gia đình có chung quyền sử dụng đất” vào trong “sổ đỏ”, Bộ Tài nguyên và môi trường cho rằng, quy định sẽ bảo đảm nghiêm ngặt về mặt pháp lý, minh bạch tài sản….

Ngày 29/9/2017, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT quy định chi tiết Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/1/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung 1 số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật đất đai và sửa đổi, bổ sung 1 số điều của các thông tư giải đáp thi hành Luật đất đai. Tại Khoản 5 Điều 6 của Thông tư này đã giải đáp việc biểu hiện tài liệu về người sử dụng đất đối có trường hợp cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền có nhà ở và tài sản khác gắn liền có đất cho hộ gia đình sử dụng đất.

Trước đây, Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền có nhà ở và tài sản khác gắn liền có đất chỉ quy định: Hộ gia đình sử dụng đất thì ghi “Hộ ông” (hoặc “Hộ bà”), sau đây ghi họ tên, năm sinh, tên và số của pháp lý nhân thân của chủ hộ gia đình như quy định ở Điểm a Khoản này; địa chỉ thường trú của hộ gia đình.

Bộ Tài nguyên và Môi trường khẳng định: Quy định sửa đổi ở Thông tư 33 sẽ bảo đảm nghiêm ngặt về mặt pháp lý, cụ thể hơn về mặt chủ thể có quyền sử dụng đất, không tạo ra các gặp khó hay rào cản mà còn giảm các rủi ro cho người sử dụng đất.

Trường hợp chủ hộ gia đình không có quyền sử dụng đất chung của hộ gia đình thì ghi người đại diện là thành viên khác của hộ gia đình có chung quyền sử dụng đất của hộ gia đình.

Trường hợp chủ hộ gia đình hay người đại diện khác của hộ gia đình có vợ hoặc chồng cộng có quyền sử dụng đất chung của hộ gia đình thì ghi cả họ tên, năm sinh của người vợ hoặc chồng đây.

Sau khi sửa đổi, Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT của Bộ TN&MT sửa đổi, bổ sung Điểm c Khoản 1 Điều 5 Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT (ngày 19/5/2014) quy định:

“Đối có hộ gia đình sử dụng đất biểu hiện các tài liệu “Hộ gia đình, gồm ông” (hoặc “Hộ gia đình, gồm bà”), sau đây ghi họ tên, năm sinh, tên và số pháp lý nhân thân của chủ hộ gia đình như quy định ở Điểm a Khoản này; địa chỉ thường trú của hộ gia đình. Trường hợp chủ hộ gia đình không có quyền sử dụng đất chung của hộ gia đình thì ghi người đại diện là thành viên khác của hộ gia đình và cộng có quyền sử dụng đất chung của hộ gia đình.

Sau đây ghi thêm “Cùng sử dụng đất, cộng có tài sản gắn liền có đất (hoặc Cùng sử dụng đất hoặc Cùng có tài sản) có … (ghi lần lượt họ tên, năm sinh, tên và số pháp lý nhân thân của các thành viên còn lại trong hộ gia đình có chung quyền sử dụng đất, quyền có tài sản gắn liền có đất)”.

Như vậy, Thông tư 33/2017/TT-BTNMT đã bổ sung thêm đối tượng là “các thành viên còn lại trong hộ gia đình có chung quyền sử dụng đất” vào trong sổ đỏ và có hiệu lực từ ngày 5/12/2017.

Trước nhiều ý kiến, Bộ TN&MT đã tài liệu: Trường hợp này chỉ tiến hành đối có tài sản là của chung nhiều người trong gia đình. Trường hợp là tài sản chung của vợ và chồng thì ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng vào Giấy chứng nhận, trừ trường hợp vợ và chồng có thỏa thuận ghi tên 1 người theo quy định ở Khoản 4 Điều 98 của Luật đất đai. Trường hợp cấp Giấy chứng đối có đất là tài sản của cá nhân thì phải ghi họ, tên của cá nhân đây.

Theo quy định ở Khoản 29 Điều 3 Luật đất đai thì “hộ gia đình sử dụng đất là các người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân gia đình, đang sống chung và có quyền sử dụng đất chung ở thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; nhận giao dịch quyền sử dụng đất”.

Do đây, khi ghi Giấy chứng nhận thì chỉ biểu hiện tài liệu các thành viên có chung quyền sử dụng đất trong hộ gia đình, các thành viên khác trong hộ gia đình không có chung quyền sử dụng đất (ví dụ như các người không phải là nhân khẩu mà Nhà nước đã xác định để giao đất cho hộ gia đình trước đây, người không có công đâyng góp để tạo lập quyền sử dụng đất của hộ,…) thì không ghi trên giấy chứng nhận.

Cũng theo Bộ TN&MT, nội dung quy định ở Khoản 5 Điều 6 của Thông tư này là thích hợp có quy định ở Khoản 2 Điều 98 của Luật đất đai (thửa đất có nhiều người chung quyền sử dụng đất, nhiều người có chung nhà ở, tài sản khác gắn liền có đất thì Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền có nhà ở và tài sản khác gắn liền có đất phải ghi đầy đủ tên của các người có chung quyền sử dụng đất, người có chung nhà ở, tài sản khác gắn liền có đất và cấp cho mỗi người 01 Giấy chứng nhận; trường hợp các chủ sử dụng, chủ có có đề nghị thì cấp chung 1 Giấy chứng nhận và trao cho người đại diện).

Bộ này cũng cho rằng, quy định này nhằm khắc phục các tồn ở trong thực ở triển khai thi hành Luật đất đai như tranh chấp, mâu thuẫn về quyền sử dụng đất giữa các thành viên trong hộ gia đình khi thực hiện các giao dịch về quyền sử dụng đất; do khi xác lập quyền sử dụng đất của hộ gia đình chưa xác định rõ các thành viên có chung quyền sử dụng đất nên không có đầy đủ cơ sở pháp lý để xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất, cũng như giải quyết các ích lợi và nghĩa vụ liên quan đến đất đai của hộ gia đình,….

Đồng thời, Bộ TN&MT cũng khẳng định: Quy định nêu trên của Thông tư sẽ bảo đảm nghiêm ngặt về mặt pháp lý, cụ thể hơn về mặt chủ thể có quyền sử dụng đất. Điều này không tạo ra các gặp khó hay rào cản mà còn giảm các rủi ro cho người sử dụng đất, minh bạch về tài sản, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên có chung quyền sử dụng đất trong hộ gia đình.

Quy định nêu trên của Thông tư cũng không đặt thêm thủ tục hành chính khi thực hiện các quyền của hộ gia đình sử dụng đất như 1 số ý kiến đã nêu mà chắc chắn sự thích hợp có quy định của pháp luật về dân sự (Khoản 2 Điều 212 Bộ Luật dân sự quy định trường hợp định đoạt tài sản là BĐS là tài sản chung của gia đình thì phải có sự thỏa thuận của toàn bộ các thành viên gia đình là người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ)”, Bộ TN&MT tài liệu.

Tìm hiểu thêm https://duanoriggarden.com/