Công bố Top 10 công ty uy tín ngành thực phẩm – đồ uống năm 2018

Ngày 31/10/2018, Vietnam Report và VietNamNet chính thức mở bán Top 10 Công ty danh tiếng ngành thực phẩm – đồ uống năm 2018.

Top 10 Công ty danh tiếng ngành thực phẩm – đồ uống năm 2018 được thi công dựa trên 1 vài tiêu chuẩn khoa học và khách quan. Các công ty được phân tách, xếp hạng dựa trên3 tiêu chí chính: (1) Năng lực tài chính thể hiện trên báo cáo tài chínhnăm gần nhất (tổng tài sản, tổng doanh thu, lợi nhuận, hiệu quả làm việc,hiệu quả sử dụng vốn,… ); (2) Uy tín truyền thôngđược phân tách bằng biện pháp Media Coding – mã hóa 1 vài bài viết về công ty trên 1 vài kênh truyền thông có ảnh hưởng; (3) Khảo sátngười tiêu dùngvề mức độ nhận biết và sự hài lòng có 1 vài sản phẩm/ dịch vụ của công ty;Khảo sátchuyên gia phân tách địa vị của 1 vài công ty trong ngành; và Khảo sát công ty được thực hiện trong tháng 9/2018 về diện tích phân khúc, lao động, vốn, tốc độ tăng trưởng doanh thu, lợi nhuận, kế hoạch làm việc trong năm 2018,…

Danh sách Top 10 Công ty thực phẩm danh tiếng năm 2018 – nhóm ngành: Đường, sữa, bánh kẹo

Nguồn: Vietnam Report, Top 10 Công ty danh tiếng ngành thực phẩm – đồ uống năm 2018, tháng 10/2018

Danh sách Top 10 Công ty thực phẩm danh tiếng năm 2018 – nhóm ngành: Thực phẩm đâyng gói, gia vị, dầu ăn,…

Nguồn: Vietnam Report, Top 10 Công ty danh tiếng ngành thực phẩm – đồ uống năm 2018, tháng 10/2018

Danh sách Top 10 Công ty thực phẩm danh tiếng năm 2018 – nhóm ngành: Thực phẩm tươi sống, đông lạnh

Nguồn: Vietnam Report, Top 10 Công ty danh tiếng ngành thực phẩm – đồ uống năm 2018, tháng 10/2018

Bức tranh toàn cảnh ngành thực phẩm – đồ uống Việt Nam năm 2018

Nguồn: Vietnam Report, Top 10 Công ty danh tiếng ngành thực phẩm – đồ uống năm 2018, tháng 10/2018

Việt Nam hiện được phân tách là 1 trong các phân khúc có sức tiêu thụ thực phẩm – đồ uống rất tiềm năng. Chỉ số tiêu thụ của ngành sản xuất chế biến thực phẩm và sản xuất đồ uống trong 9 tháng đầu năm 2018 tăng lần lượt 8,1% và 10,2% so có cộng kỳ năm trước (theo GSO).

Số liệu khảo sát của Vietnam Report cũng chỉ ra rằng, thực phẩm – đồ uống hiện đang chiếm mật độ cao nhất trong cơ cấu chi tiêu hàng tháng của người tiêu dùng (chiếm khoảng 35% mức chi tiêu).

Hình 1: Cơ cấu chi tiêu trung bình hàng tháng của người tiêu dùng Việt Nam

Nguồn: Vietnam Report, Khảo sát thói quen mua hàng thực phẩm – đồ uống của người tiêu dùng Việt Nam, tháng 9/2018

Đánh giá về tiềm năng tăng trưởng, ngành thực phẩm và đồ uống hiện chiếm dao động 15% GDP và có xu hướng tăng lên trong thời gian tới. BMI dự báo, tốc độ tăng trưởng ngành thực phẩm và đồ uống sẽ cao hơn trong GĐ 2016 – 2019, trong đó khả năng Việt Nam sẽ đứng ở địa điểm thứ ba Châu Á.

Bên cạnh đây, có mật độ dân số trẻ ngày 1 cao (ước tính dao động trên 50% dân số Việt Nam dưới 30 tuổi), mức lương được cải thiện và thói quen mua sắm thực phẩm chế biến sẵn càng ngày càng phổ biến, sự phong phú cộng có sự dồi dào 1 vài sản phẩm nông nghiệp – nguồn nguyên liệu thô cung ứng cho làm việc chế biến thực phẩm, đồ uống… đang là các lợi thế để 1 vài công ty trong ngành phong phú hóa chủng loại sản phẩm nhằm cung cấp có nhu cầu liên tục 1 vàih tân của người tiêu dùng, và là các điều kiện thuận lợi góp phần giúp Việt Nam trở thành phân khúc tiêu thụ thực phẩm – đồ uống tiềm năng trong khu vực.

Bia, đồ uống không cồn và thực phẩm là 3 nhóm tăng trưởng nhanh nhất trong ngành FMCG (Ngành hàng tiêu dùng nhanh)

Hình 2: Đóng góp và tăng trưởng giá trị của 1 số nhóm trong ngành FMCG

Nguồn: Nielsen Việt Nam

Về tiềm năng xuất khẩu, phần lớn chuyên gia được Vietnam Report hỏi đều cho rằng, Việt Nam hiện đã có các công ty tương đối mạnh, có tên tuổi, có sức tranh giành, không ngừng nghỉ dẫn đầu tại phân khúc trong nước, đủ cơ sở để xuất khẩu ra nước ngoài. Do đây, khi thời điểm Hiệp định Thương mại tự do EU – Việt Nam (EVFTA) sắp đi đến ký kết chính thức, 1 vài công ty đều đặt kỳ vọng đây sẽ là cơ hội lớn để thương hiệu Việt xuất GĐ này nhiều quốc gia hơn trên địa cầu. Thủy sản, cà phê, bánh kẹo được dự báo sẽ là 3 ngành hàng có tiềm năng xuất khẩu lớn trong thời gian tới.

Hoạt động M&A trong ngành thực phẩm – đồ uống cũng diễn ra rất sôi động trong thời gian qua, cả về số lượng và chất lượng, tạo nên các “ông lớn” của ngành thực phẩm – đồ uống, điển hình như Masan, Thành Thành Công, Kido, Pan Group… Các tên tuổi lớn trong ngành FMCGđến từ Thái Lan, Hàn Quốc có lợi thế về tài chính, bí kíp và công nghệ cũng tích cực đầu tư vào Việt Nam. Theo nghiên cứu kỹ của BMI, cơ hội đầu tư cho ngành chế biến thực phẩm của Việt Nam vẫn còn khá lớn, đặc biệt trong ngànhđồ uống, thực phẩm chế biến và sữa.

Nhận diện 1 vài thương hiệu danh tiếng ngành thực phẩm – đồ uống GĐ 2017-2018

Khảo sát người tiêu dùng của Vietnam Report được thực hiện trong tháng 9/2018 đã điểm mặt 1 số thương hiệu tiêu biểu được người tiêu dùng lựa chọn nhiều nhất (phân theo nhóm sản phẩm) bao gồm: Vissan (Thực phẩm tươi sống), mỳ Hảo Hảo (Thực phẩm ăn liền), Nam Ngư (Gia vị), Simply (Dầu ăn), Vinamilk (Sữa), Bibica (Bánh kẹo), Heineken (Bia rượu), Pepsi (Nước ngọt), Lavie (Nước khoáng), G7 (Cà phê).

Hình 3: Các thương hiệu thực phẩm – đồ uống được người tiêu dùng lựa chọn nhiều nhất năm 2018 (phân theo nhóm sản phẩm)

Nguồn: Vietnam Report, Khảo sát thói quen mua hàng thực phẩm – đồ uống của người tiêu dùng Việt Nam, tháng 9/2018

Theo nhận định của Vietnam Report, truyền thông có vai trò quan trọng trong việc kết nối trực tiếp giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng, giúp người tiêu dùng nhận diện thương hiệu danh tiếng tốt hơn khi đưa ra chọn lọc mua sắm. Tuy nhiên, kết quả đánh giá truyền thông cho thấy, sự hiện diện trên truyền thông của 1 vài công ty ngành thực phẩm, đồ uống hiện còn hạn chế. Chỉ 22,9% số công ty được nghiên cứu kỹ có lượng tài liệu đạt ngưỡng nhận thức (xem thêm box ghi chú), trong đây 44% có tần suất xuất hiện tối thiếu 1 lần/ 1 tháng. Về độ phong phú tài liệu, 27,4% số công ty có tài liệu bao phủ 10/24 số nhóm chủ đề có liên quan tới làm việc của công ty. 3 nhóm chủ đề thường được đề cập đến nhiều nhất: Tài chính/ Kết quả kinh doanh, Cổ phiếu, Sản phẩm.

Về chất lượng tài liệu, công ty được phân tách là “an toàn” khi đạt mật độ chênh lệch tài liệu tích cực và tiêu cực so có tổng lượng tài liệu được mã hóa ở mức 10%, tuy nhiên ngưỡng “tốt nhất” là trên 20%. Trong ngành thực phẩm – đồ uống, hiện có dao động hơn 40% số công ty đạt mức 10% này.

Hình 4: 10 công ty có mật độ chênh lệch tài liệu tích cực/tiêu cực cao nhất trên truyền thông trong GĐ từ tháng 9/2017 đến tháng 9/2018

Nguồn: Vietnam Report, Dữ liệu Media Coding ngành thực phẩm – đồ uống trong GĐ tháng 9/2017 – tháng 9/2018

Nhìn chung, không chỉ 1 vài công ty trong ngành thực phẩm – đồ uống mà đa số 1 vài công ty Việt đều khá dè dặt có truyền thông bởi thiếu khả năng kiểm soát tài liệu. Đây cũng là bài toán khó cho 1 vài công ty đặc biệt trong bối cảnh công nghệ tân tiến và tài liệu đa chiều như GĐ này.

Ba xu thế chủ đạo trong phong 1 vàih tiêu dùng thực phẩm – đồ uống mới

Thứ nhất, nhu cầu sử dụng 1 vài loại thực phẩm tự nhiên,hữu cơ (organic)

Trong bối cảnh lương đầu người tăng lên, người tiêu dùng có xu hướng lựa chọn 1 vài thực phẩm sạch, có lý do hữu cơ và thân thiện có môi trường, vàsẵn sàng chi trả khoản tiền cao hơn cho bữa ăn thường ngày. Hơn 86% người tiêu dùng tại 2 đô thị lớn là Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh khi được hỏi đã lựa chọn 1 vài sản phẩm tự nhiên và hữu cơ, hoặc 1 vài sản phẩm đúng mùa vụ để đảm bảo an toàn cho sức khỏe.

Thời gian qua, có khá nhiều công ty đã mạnh dạn đầu tư vào lĩnh vực này, đặc biệt có cả sự tham gia của các 1 vài ông lớn ngành bán lẻ (có lợi thế sẵn có 1 vài kênh bán hàng: siêu thị, cửa hàng tiện lợi,…)

Thứ hai, tái định nghĩa lại thực phẩm tiện lợi

Trong cuộc sống tân tiến, quan điểm về gia đình, đặc biệt ở khu vực đô thị đã có sự 1 vàih tân: số lượng người trong 1 gia đình thường chỉ có 4-5 người, mật độ người sống độc thân tăng…, do đây nhu cầu có nhóm hàng hóa tiêu dùng nhanh cũng có sự khác biệt so có trước đây.

Để phục vụ cho 1 vài đối tượng này, 1 vài công ty thực phẩm – đồ uống đã 1 vàih tân quy 1 vàih và trọng lượng hàng hóa đâyng gói sản phẩm nhỏ, sử dụng phù hợp có nhu cầu của cá nhân và dễ dàng mang theo sử dụng trên đường đi. Ngoài ra, 1 vài công ty cũng hướng tới cung cấp 1 vài Bữa ăn tươi (ready meals)nhằm mang đến cho người tiêu dùng không chỉ là các sản phẩm đâyng gói/ ăn liền khô, mà còn là các sản phẩm tươi, ngon, bổ dưỡng, an toàn và tiện lợi.

Thứ ba, công nghệ làm 1 vàih tân trải nghiệm ẩm thực của người tiêu dùng

Giới trẻ Việt Nam đa phần là các bạn trẻ năng động, thích trải nghiệm và sẵn sàng chi trả đề được thưởng thức 1 vài loại thực phẩm – đồ uống ngon và lạ. Cùng có sự phát triển của công nghệ, họ có thể dễ dàng truy cập 1 vài xu thế ẩm thực mới nhất, hot nhất qua mạng xã hội vàđặt hàng thông qua 1 vài áp dụng cho phép tìm kiếm địa điểm ăn uống (Foody), giao đồ ăn (deliveryNow) và đặt bàn (TableNow)… khiến phân khúc ẩm thực phát triển thành sôi động hơn. Theo nhận định của Nielsen, thực phẩm và đồ uống là 2 trong 10 sản phẩm được giao dịch trên mạng nhiều nhất trong năm 2017.

Đối có 1 vài công ty sản xuất, họ cũng qua đây nắm bắt được xu thế tiêu dùng thực phẩm- đồ uống để phong phú hóa và cải thiện 1 vài dòng sản phẩm sao cho phù hợp có khẩu vị của người tiêu dùng tân tiến (ví dụ: trà sữa đâyng gói, ngũ cốc ăn liền…)

Rõ ràng rằng, cơ hội để phát triển của 1 vài thương hiệu thực phẩm – đồ uống tại Việt Nam là rất lớn. Khi các công ty nước ngoài tích cực có mặt tại thị trường Việt Nam sẽ mở ra nhiều cơ hội hợp tác đầu tư sản xuất tại các khu công nghiệp, tạo công ăn việc làm cho người lao động, chuyển giao công nghệ, đưa sản phẩm trở nên đa dạng hóa và tiện ích. Song song với đó, tính cạnh tranh được đẩy lên, một mặt kích thích các công ty trong nước thích nghi đổi mới để hòa vào “sân chơi” thương mại chung. Tuy nhiên, 1 thương hiệu mạnh là chưa đủ, đây còn phải là 1 thương hiệu danh tiếng. Vì vậy trong thời gian tới, 1 vài công ty ngành thực phẩm – đồ uống cần đầu tư Bên cạnh đây cho việc quảng bá và phát triển hình ảnh và ghi tên mình trên bản đồ thực phẩm – đồ uống địa cầu.

Top 10 Công ty danh tiếng ngành thực phẩm – đồ uống là kết quả nghiên cứu kỹ độc lập của Vietnam Report được mở bán từ năm 2017. Từ năm 2012, Vietnam Report đã sử dụng biện pháp Media Coding (mã hóa dữ liệu báo chí) để tính điểm danh tiếng của 1 vài công ty trên truyền thông. Kể từ đây đến nay, nhiều bảng xếp hạng Top 10 thuộc 1 vài ngành trung tâm và có tiềm năng tăng trưởng cao của Việt Nam cũng đã được định kỳ mở bán thường niên như: Bất động sản, Xây dựng, Công nghệ tài liệu, Ngân hàng, Bảo hiểm, Dược, Du lịch, Doanh nghiệp niêm yết.

Phương pháp nghiên cứu kỹ đánh giá truyền thông để phân tách danh tiếng của 1 vài công ty dựa trên học thuyết Agenda Setting về sự ảnh hưởng, tác động của truyền thông đại chúng đến cộng đồng và xã hội được 2 giáo sư Maxwell McCombs và Donald L. Shaw chính thức mở bán vào năm 1968, được Vietnam Report và 1 vài đối tác hiện thực hóa và áp dụng. Theo đây, Vietnam Report đã sử dụng biện pháp Branch Coding (phân tách hình ảnh của công ty trên truyền thông) để tiến hành đánh giá danh tiếng của 1 vài công ty thực phẩm và đồ uống tại Việt Nam.

Vietnam Report tiến hành mã hóa (coding) 1 vài bài báo viết về ngành thực phẩm – đồ uống được đăng tải trên 1 vài đầu báo có ảnh hưởng trong thời gian từ tháng 9/2017 đến tháng 9/2018. Tổng số có 1.375 bài báo, có tương ứng 2.996 coding unit (đơn vị mã hóa) được phân tách theo cấp độ câu chuyện (story – level) về 24 khía cạnh làm việc cụ thể của 1 vài công ty từ sản phẩm, kết quả kinh doanh, phân khúc… tới 1 vài làm việc và danh tiếng của lãnh đạo công ty. Các tài liệu được lựa chọn mã hóa (coding) dựa trên 2 tiêu chuẩn cơ bản: Tên công ty xuất hiện ngay trên tiêu đề của bài báo, hoặc tin tức về công ty được đề cập tối thiểu chiếm 5 dòng trong bài báo, đây được gọi là ngưỡng nhận thức – khi tài liệu được phân tách là có giá trị đánh giá. Các tài liệu được phân tách ở 1 vài cấp độ: 0: Trung lập; 1: Tích cực; 2: Khá tích cực; 3: Không rõ ràng; 4: Khá tiêu cực; 5: Tiêu cực. Tuy nhiên, thống kê lại, nhóm nghiên cứu kỹ đưa ra 3 cấp bậc để phân tách cuối cộng, bao gồm: Trung lập (gồm 0 và 3), tích cực (1 và 2), và tiêu cực (4 và 5).

Những nhận định trong thông cáo mang tính tổng quát và tham khảo cho 1 vài công ty, đối tác; không phải nhận định cá nhân và không phục vụ mục đích hay nhu cầu của bất cứ nhà đầu tư cụ thể nào. Do đây, 1 vài bên liên quan nên cân nhắc kỹ tính phù hợp của 1 vài tài liệu trên trước khi sử dụng để đưa ra chọn lọc đầu tư và hoàn toàn chịu trách nhiệm trong việc sử dụng 1 vài tài liệu đây.

Vietnam Report

Tìm hiểu thêm https://duanoriggarden.com/