Đề xuất vốn tạm ứng với dự án sử dụng ngân sách nhà nước không vượt 30%

Thay vì 50% như giai đoạn này, tổng mức tạm ứng hợp đồng có những dự án sử dụng ngân sách Nhà nước Bộ Tài chính đề xuất không được vượt quá 30% giá trị hợp đồng ở thời điểm ký kết.
Bộ Tài chính đề xuất tổng mức tạm ứng hợp đồng có những dự án sử dụng ngân sách Nhà nước không được vượt quá 30% giá trị hợp đồng ở thời điểm ký kết.

Bộ Tài chính đã có ý kiến đâyng góp có dự thảo “Nghị định sửa đổi, bổ sung 1 số điều của Nghị định số 37/2015/NĐ-CP ngày 22/4/2015 của Chính phủ về Hợp đồng thi công”.

Theo đây, thay vì 50% như giai đoạn này, tổng mức tạm ứng hợp đồng có những dự án sử dụng ngân sách Nhà nước không được vượt quá 30% giá trị hợp đồng ở thời điểm ký kết.

Cụ thể, Bộ Tài chính kiến nghị sửa đổi quy định về tạm ứng hợp hợp đồng thi công theo hướng mức tạm ứng, thời điểm tạm ứng và việc thu hồi tạm ứng phải được những bên thỏa thuận cụ thể trong hợp đồng và phải thích hợp có phân kỳ đầu tư dự án, công đoạn thực hiện hợp hợp đồng và khối lượng thực hiện từng năm.

Mức vốn tạm ứng và số lần tạm ứng được phân định rõ theo từng năm thích hợp có công đoạn thực hiện hợp đồng trong năm tương ứng. Đồng thời, tổng mức tạm ứng hợp đồng không được vượt quá 30% giá trị hợp đồng ở thời điểm ký kết (bao gồm cả dự phòng nếu có). Trường hợp độc đáo cần tạm ứng ở mức cao hơn thì phải được Người có thẩm quyền chọn lọc đầu tư cho phép.

Ngoài ra, riêng đối có dự án sử dụng ngân sách nhà nước, do kế hoạch vốn không hoàn toàn tương thích có công đoạn thực hiện dự án do phải thích hợp có cân đối ngân sách nhà nước hàng năm, theo đây ngoài việc căn cứ vào công đoạn thực hiện còn phải căn cứ vào kế hoạch vốn được bố trí trong năm.

Đồng thời, quan điểm Bộ Tài chính là không nên quy định mức tạm ứng tối thiểu đối có những hợp đồng thực hiện dự án sử dụng ngân sách nhà nước.

Về việc thu hồi tạm ứng, Bộ Tài chính kiến nghị quy định vốn tạm ứng phải được thu hồi qua những lần chi trả khối lượng đã đi vào hoạt động của hợp đồng, mức thu hồi từng lần do chủ đầu tư thống nhất có nhà thầu và quy định cụ thể trong hợp đồng và chắc chắn thu hồi hết khi giá trị chi trả (bao gồm cả tạm ứng và chi trả khối lượng đã đi vào hoạt động) đạt 80% giá trị hợp đồng trừ trường hợp đã được Người có thẩm quyền chọn lọc đầu tư cho phép tạm ứng ở mức cao hơn 80% giá trị hợp đồng.

Ngoài ra, nhằm có chế tài xử lý đối có việc sử dụng tạm ứng, thu hồi tạm ứng để tăng trách nhiệm đối có những đơn vị sử dụng vốn tạm ứng nguồn ngân sách nhà nước, góp phần giảm số dư tạm ứng lớn và kéo dài qua nhiều năm ở Kho bạc Nhà nước, Bộ Tài chính kiến nghị vốn tạm ứng chưa thu hồi nếu quá thời hạn 3 tháng kể từ thời điểm phải thu hồi tạm ứng theo quy định của hợp đồng mà nhà thầu chưa thực hiện hoặc khi phát hiện nhà thầu sử dụng sai mục đích, chủ đầu tư có trách nhiệm chủ trì, phối hợp có Kho bạc Nhà nước để thu hồi hoàn trả vốn đã tạm ứng cho ngân sách nhà nước.

Trường hợp chủ đầu tư chưa thu hồi, Kho bạc Nhà nước có văn bản đề nghị chủ đầu tư thu hồi của nhà thầu hoặc đề nghị chủ đầu tư đề nghị tổ chức tín dụng phát hành bảo lãnh hoàn trả tiền tạm ứng theo nghĩa vụ bảo lãnh khi nhà thầu vi phạm cam đoan có chủ đầu tư về việc sử dụng vốn tạm ứng.

Tìm hiểu thêm https://duanoriggarden.com/