Giá điện VN khá thấp so với các nước trong khu vực và thế giới

Giá điện sinh hoạt, giá điện kinh doanh và giá điện công nghiệp phân phối ra ở Việt Nam GĐ này tương đối thấp so có các nước có cộng trình độ phát triển (GDP/người) trong khu vực và trên địa cầu – ông Franz Gerner, Trưởng nhóm Năng lượng, WB Việt Nam

Ông đánh giá như thế nào về chọn lọc gần đó của Bộ Công Thương về tăng giá điện thêm 6,08%, tức là lên đến 1720 đồng/kwh. Đây là lần tăng Thứ nhất kể từ tháng 3/2015?

– Vấn đề chính mà EVN và ngành điện nhìn chung đang phải đối mặt GĐ này là chẳng thể nâng giá điện tiêu dùng theo mức tăng giá thành. Hiện EVN đang vận hành có giá thành thấp nhưng giá phân phối điện thấp đã khiến cho tình hình tài chính của doanh nghiệp không khả quan. Giá điện đã bị đóng băng lể từ 2015 ở mức 0,076 USD/kwh, trong khi tổng giá thành là 0,113 USD/kwh năm 2017. Do vậy đợt tăng giá này sẽ giúp đưa giá điện về gần hơn có mức phản ánh đầy đủ giá thành sản xuất mà mọi người sử dụng đều có thể chi trả được và đồng thời bảo vệ được người tiêu dùng lương thấp thông qua mạng lưới an sinh sẵn có.

– Ông có cho rằng công đoạn tăng giá điện GĐ này là thích hợp không? Giá điện GĐ này cao hay thấp?Việt Nam so có các nước khác trong khu vực và trên địa cầu thì như thế nào?

– Giá điện GĐ này thấp hơn mức giá mà EVN phải bỏ ra để mua điện từ các nguồn trong tương lai, kể cả năng lượng tái tạo và nhiệt điện. Nhu cầu đầu tư sản xuất điện tăng nhanh nhằm cung cấp tốc độ tăng cầu về điện. Muốn làm hài lòng nhu cầu đó thì giá điện phải lên tới mức 0,143 USD/kwh vào năm 2021.Mỗi nước đều có tiềm năng về năng lượng và giá thành sản xuất điện khác nhau. Trong trường hợp Việt Nam, lượng điện có thể sản xuất từ các nguồn bình dân như thủy điện, than, khí đã bị khai thác tới hạn; toàn bộ sản lượng điện sản xuất mới từ than nhập khẩu và trữ lượng khí trong nước đều sẽ có giá thành cao hơn.

Tuy mức giá thành khác nhau bởi thế nhưng giá điện sinh hoạt, giá điện kinh doanh và giá điện công nghiệp phân phối ra ở Việt Nam GĐ này tương đối thấp so có các nước có cộng trình độ phát triển (GDP/người) trong khu vực và trên địa cầu. Ví dụ, giá điện ở Cam-pu-chia, Lào, Phi-lip-pin và In-đô-nê-xi-a lần lượt là 19 US cent/kwh, 9 US cent/kwh, 14,6 US cent/kwh, và 7,3 US cent/kwh.

– Lượng điện tiêu thụ ở Việt Nam tăng có mức 2 con số trong GĐ 2016-2020. Vậy mỗi năm Việt Nam cần đầu tư bao nhiêu vào các dự án sản xuất điện mới? Mức giá GĐ này có quyến rũ có nhà đầu tư nước ngoài không?

– Do kinh tế phát triển nhanh nên nhu cầu về điện ở Việt Nam tăng nhanh, dao động 8%/năm từ nay cho tới năm 2020. Với tốc độ đó, tổng vốn đầu tư cần thiết sẽ vào dao động 12,8 tỉ USD (11 tỉ USD đầu tư vào sản xuất điện và 1,8 tỉ USD đầu tư vào truyền tải và phân phối điện) trong dao động thời gian 2016-2020. Mô hình cấp vốn ngành điện trước đó của Việt Nam dựa chủ yếu vào đầu tư công nhưng GĐ này sẽ không khả thi nữa do chính phủ sẽ không tiếp tục bảo lãnh cho EVN đi vay vốn từ các ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính quốc tế.

Việt Nam là 1 trong các nước tiêu thụ nhiều điện nhất khu vực Đông Á Thái Bình Dương; do vậy tăng cường tiết kiệm sử dụng điện là cách bình dân nhất để tránh phải nâng cao công suất phát điện trong tình hình nhu cầu sử dụng điện tăng cao. Trong tình hình này, Ngân hàng Thế giới có 1 gói hỗ trợ tổng thể về tài chính và kỹ thuật huớng tới tăng cường tiết kiệm sử dụng điện trong các nhà máy.

Đồng thời có việc tiết kiệm điện, muốn huy động các nguồn mới đầu tư vào hạ tầng điện lực thì cần ứng dụng 1 số chính sách phân phối hàng mới xoay quanh 3 trụ cột gồm a) phát động 1 chương trình được thi công kỹ lưỡng về phát triển các nhà máy phát điện độc lập theo hình thức PPP để qua đó thi công lòng tin đối có nhà đầu tư tư nhân; b) dự kiến cho EVN và các doanh nghiệp thành viên (Tổng doanh nghiệp truyền tải điện quốc gia, các doanh nghiệp phát điện, các doanh nghiệp điện lực) đạt nguyên tắc vay vốn doanh nghiệp; và c) thực hiện 1 chương trình nâng cao khả năng cấp vốn bằng đồng nội tệ và tăng cường phát triển phân khúc vốn trong nước.

– Theo Bộ Công Thương, đợt tăng giá này sẽ làm CPI tăng 0,08% trong năm 2017, 0,1% năm 2018 và giảm mức tăng GDP 0,166%. Ông có ý kiến gì về điều này?

– Kinh nghiệm quốc tế cho thấy tác động của tăng giá điện lên tỉ lệ lạm phát là khá thấp, nhất là khi ứng dụng tăng giá từ từ. Đợt tăng giá này có thể khiến cho giá cả tăng mạnh hơn xu thế lạm phát bình thường nhưng tác động chỉ có tính nhất thời và không đáng kể. Nguyên nhân là chi tiền điện chỉ chiếm 2,5% giỏ hàng tiêu dùng mặc dù tác động đó có thể còn lan truyền đôi chút sang các loại hàng hóa và dịch vụ khác có tiêu thụ điện trong sản xuất. Hiện nay lạm phát khá thấp. Đây chính là điều kiện thuận lợi để tăng giá điện.

Về tăng trưởng GDP thì có hai hiệu ứng trái ngược. Một mặt giá điện tăng sẽ giúp các doanh nghiệp sản xuất điện cải thiện tình hình tài chính. Nhờ vậy chính phủ cũng có thể cắt giảm hỗ trợ cho các doanh nghiệp này, và vẫn có thể đầu tư vào nâng cao năng lực sản xuất, truyền tải và phân phối điện. Điều đó dĩ nhiên sẽ góp phần thúc đẩy tăng GDP. Nhưng mặt khác, giá điện tăng sẽ làm tăng giá thành sản xuất, nhất là các ngành tiêu thụ nhiều điện năng, ví dụ ngành công nghiệp chế tạo và 1 bộ phận nông nghiệp.

Các ngành này sẽ chịu 1 số tác động ngắn hạn, nhưng về lâu dài tăng giá điện sẽ buộc các bạn điều chỉnh các sử dụng điện của mình. Họ sẽ chuyển sang sử dụng điện lệch giờ cao điểm để được hưởng giá thấp hơn hay ứng dụng các giải pháp tăng cường tiết kiệm điện. Như vậy sẽ góp phần tăng năng suất lao động. Kinh nghiệm chung trên địa cầu là quy định mức giá phản ánh đúng giá thành và hợp lý chính là chính sách phân phối hàng kinh tế đúng đắn. Qua đó sẽ chắc chắn rằng cả nhà sản xuất và người tiêu dùng đều hướng tới tiết kiệm năng lượng và đầu tư vào các công nghệ tiết kiệm năng lượng hơn.

– Chính phủ vẫn dành nguồn lực để giúp đỡ người nghèo khi tăng giá nhằm hạn chế bớt tác động lên các nhóm gặp khó. Xin ông cho ý kiến về vấn đề này ?

– Chính phủ đã thiết lập 1 mạng lưới an sinh xã hội nhằm giúp đỡ nhóm lương thấp trước các đợt tăng giá; mọi người đều cho rằng các mạng lưới an sinh bởi thế được kiến trúc tốt và hướng tới các nhóm gặp khó, cần giúp đỡ.

– Chính phủ đã khẳng định cần tăng giá điện theo giá đầu vào, trong khi đó thì giá 1 số vật tư đầu vào vẫn bị quản lý chứ không theo giá phân khúc. Cần làm gì để tránh mua than đắt chỉ có mục đích cứu ngành than?Như vậy có công bằng có ngành điện không?

– Trước đó Việt Nam đã phát triển thành công các nguồn sản xuất điện bằng than, khí và thủy điện có giá thành thấp. Nhưng nay do cầu về điện tăng nên các nguồn trong nước không đủ cung cấp nữa. Ngoài ra, các nguồn mới như than và điện nhập từ Lào và Trung Quốc và các nguồn trong nước như các mỏ khí mới, điện gió, điện mặt trời đều có giá thành cao hơn trước đó. Vì vậy giá thành sản xuất điện, và giá phân phối lẻ sẽ phải tăng thì mới chắc chắn phát triển ngành điện bền vững và cấp điện ổn định.

Hiện nay điện gió và điện mặt trời đang phát triển ở Việt Nam có giá thành càng ngày càng hạ. Vì vậy các công nghệ này, cộng có giá thành tích điện càng ngày càng hạ, sẽ tranh đua được có các nguồn truyền thống như than và thuỷ điện và có thể cấp được công suất tải tối thiểu. Ngoài ra, Việt Nam cần giảm sự tùy thuộc vào than đá thì mới có thể đã đi vào hoạt động cam đoan NDC (đóng góp quốc gia) về thúc đẩy năng lượng thay thế.

– Tuy tăng giá điện bởi thế nhưng Bộ Công Thương cho biết trong giá điện vẫn chưa tính đến trên 8000 tỷ đồng lỗ do chênh lệch tỷ giá. Nếu tính đến khoản này thì giá điện sẽ còn cao Bên cạnh đó. Ông có cho rằng tăng giá như vừa rồi có giúp EVN cải thiện tình hình tài chính không?

– Chiến lược chung về giá điện của Bộ Công Thương là nhằm chắc chắn cho EVN có đủ lãi để bù đắp đủ giá thành vận hành và hoàn trả vốn vay. Do dựa chủ yếu vào thủy điện nên nếu năm nào có lượng mưa trung bình thì EVN cũng có lãi. Nhưng vấn đề là nhu cầu vốn đầu tư của EVN và ngành điện rất lớn, vào dao động 4-7 tỉ USD mỗi năm từ nay cho tới 2030. Con số đó GĐ này chưa biểu hiện trong giá điện và cái khó của EVN và ngành điện là làm sao lôi kéo được vốn thương mại và sự tham dự của khu vực tư nhân vào đầu tư.

– Giá điện, khí, xăng đều tăng trong thời gian gần đó. Ông có cho rằng các doanh nghiệp và người tiêu dùng Việt Nam có thể theo kịp vô số sự tăng giá bởi thế không?

-Chính phủ tăng giá điện là biểu hiện điều kiện trên phân khúc và làm bởi thế sẽ có tác dụng làm tăng hiệu quả phân bổ nguồn lực mà thôi; đồng thời, khi trả mức giá đó người tiêu dùng cũng sẽ tìm cách tối ưu hóa cung cách tiêu dùng của mình và sẽ hưởng lợi từ đó. Nhiều nền kinh tế mới nổi đã trải qua các thời kỳ tương tự trong quá trình phát triển kinh tế (tỉ lệ GDP/người tăng) của mình, và họ cũng có các mạng lưới an sinh nhằm bảo vệ các nhóm lương thấp trước các cú sốc tăng giá. Hiện nay thì Việt Nam đã có các mạng lưới bởi thế và chúng vận hành rất hiệu quả.

– Nhằm giảm sức ép lên ngành điện hiện đã có nhiều dự án BOT có tổng giá trị lên đến 2 tỉ USD. Một số người sợ rằng BOT ngành điện cũng đi theo vết xe đổ của BOT ngành giao thông và giá điện rồi sẽ tăng. Ông nghĩ sao về vấn đề này?

– Việt Nam đã lôi kéo thành công các dự án BOT điện khí và điện than từ các nhà đầu tư quốc tế. Gần đó Việt Nam đã cập nhật và cải thiện khung đối tác công tư PPP. Nhưng GĐ này khung PPP mới vẫn chưa được hưởng ứng rộng rãi; chính phủ và các nhà đầu tư còn nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề phân bổ rủi ro trong các dự án PPP và BOT. Điều đó đã làm chậm quá trình thi công dự án. Do chưa có khung PPP chuẩn hóa nên lôi kéo vốn vẫn còn gặp nhiều gặp khó, nhất là lôi kéo vốn qua biên giới.

– Xin cảm ơn ông!

Tìm hiểu thêm https://duanoriggarden.com/