Nợ xấu của các ngân hàng hiện nay ra sao?

Kết quả kinh doanh quý 3 của các ngân hàng niêm yết, dù đa số các ngân hàng đều nỗ lực xử lý nợ xấu, tuy nhiên, nợ xấu tăng nhanh ở nhiều ngân hàng

Vietcombank dẫn đầu lợi nhuận, nợ xấu tăng

Báo cáo của Vietcombank cho thấy, tính đến hết quý 3, kinh phí dự phòng tăng nhẹ 10,9% so có cộng kỳ lên 4.998 tỷ đồng, gồm 505,8 tỷ đồng dự phòng chung và 4.302 tỷ đồng là dự phòng cụ thể.

Tỷ lệ nợ xấu của nhà băng này là 1,18% (cuối năm 2017 là 1,14%) có 1.381 tỷ đồng nợ xấu được xóa, tương đương 0,22% tổng dư nợ. Tổng số dư nợ xấu tính đến 30/09/2018 là 8.165,5 tỷ đồng và mật độ quỹ dự phòng nợ xấu (LLR) vẫn ở mức rất cao là 155,5% (cuối năm 2017 là 130,7%).

Cụ thể, Nợ nhóm 2 chiếm 0,6% tổng dư nợ, giảm 15,3% so có đầu năm, là 4.051 tỷ đồng; Nợ nhóm 3 chiếm 0,13% tổng dư nợ, tăng 23,2% so có đầu năm lên 843 tỷ đồng; Nợ nhóm 4 chiếm 0,32% tổng dư nợ, giảm 44,1% so có đầu năm xuống 2.023 tỷ đồng; Nợ nhóm 5 chiếm 0,73% tổng dư nợ, tăng 136% so có đầu năm lên 4.578 tỷ đồng.

Vietcombank cũng là ngân hàng dẫn đầu về lợi nhuận có mức lợi nhuận trước thuế 9 tháng đầu năm đạt 11.683 tỷ đồng, tăng 47,2% so có cộng kỳ.

Techcombank nợ xấu tăng mạnh

Đối có Techcombank,mật độ nợ xấu là 2,05%, tăng từ 1,61% vào cuối năm 2017, sau khi xử lý 2.226,4 tỷ đồng nợ xấu trong 9 tháng đầu năm, tương đương 1,33% dư nợ. Dư nợ xấu của ngân hàng này tính đến 30/09 là 3.428,2 tỷ đồng, tăng 32,7% so có đầu năm.

Trong đây, Nợ nhóm 2 chiếm 1,71% tổng dư nợ, tăng 22,3% so có đầu năm lên 2.853 tỷ đồng; Nợ nhóm 3 chiếm 0,27% tổng dư nợ, giảm 21,3% so có đầu năm xuống 452,7 tỷ đồng; Nợ nhóm 4 chiếm 0,57% tổng dư nợ, tăng 108,3% so có đầu năm lên 948,7 tỷ đồng; Nợ nhóm 5 chiếm 1,21% tổng dư nợ, tăng 30,5% so có đầu năm lên 2.026,8 tỷ đồng.

Theo đây, lợi nhuận trước thuế 9 tháng đầu năm của Techcombank đạt 7.774 tỷ đồng, tăng 60,6% so có cộng kỳ.

MBBank: Nợ nhóm 5 tăng mạnh

Còn ở MBBank, mật độ nợ xấu tính đến 30/9 là 1,57%, tăng so có mức 1,2% vào cuối năm 2017, sau khi đã xử lý 1.020,4 tỷ đồng nợ xấu trong 9 tháng đầu năm. Dư nợ xấu là 3.218,4 tỷ đồng, tăng 45,1% so có đầu năm, và tổng nợ xấu hình thành mới trong 9 tháng đầu năm là 2.021 tỷ đồng, tăng 46,4% so có cộng kỳ. Trong khi đây, hệ số LLR là 106%, tăng từ mức 96% vào cuối năm 2017.

Thống kê nợ xấu của MBBank như sau: Nợ nhóm 2 chiếm 1,62% tổng dư nợ, tăng 4,8% so có đầu năm lên 3.327 tỷ đồng; Nợ nhóm 3 chiếm 0,38% tổng dư nợ, tăng 6,2% so có đầu năm lên 781 tỷ đồng; Nợ nhóm 4 chiếm 0,55% tổng dư nợ, tăng 67,3% so có đầu năm lên 1.118 tỷ đồng; Nợ nhóm 5 chiếm 0,64% tổng dư nợ, tăng 62,1% so có đầu năm lên 1.319 tỷ đồng.

Theo đây lợi nhuận trước thuế 9 tháng đầu năm của MBBank đạt 6.015 tỷ đồng, tăng 50,3% so có cộng kỳ.

BIDV: Nợ xấu nhóm 5 giảm, nhóm 4 tăng vọt

Trong khi đây, 1 ông lớn trong nhóm “big 4” là BIDV có mật độ nợ xấu tăng tăng từ 1,5% vào cuối quý liền trước lên 1,8% khi chỉ có 118 tỷ đồng được xử lý trong quý 3/2018.

Nợ nhóm 3 và nhóm 5 của BIDV giảm lần lượt 11% và 26%, trong khi nợ nhóm 4 tăng mạnh 191% so có cộng kỳ năm ngoái. Tỷ lệ dự phòng/khoản vay gộp không cách tân nhiều đạt 1,54%. Khoản nợ đã xử lý/khoản vay gộp 9 tháng đầu năm 2018 đạt 1,03% so có con số cả năm 2017 là 0,46%.

Trong quý 3 vừa rồi, BIDV chỉ xóa 117 tỷ đồng nợ xấu, thấp hơn nhiều so có mức 10.000 tỷ đồng nợ đã xóa trong hai quý đầu năm. Kết quả là, kinh phí dự phòng quý 3 giảm so có cộng kỳ và giảm so có trung bình hai quý trước, kéo theo kinh phí dự phòng 9 tháng giảm tốc.

Theo ước tính, trong 9 tháng qua, BIDV mới chỉ trích lập 880 tỷ đồng dự phòng cho trái phiếu VAMC có giá trị ròng còn 9.266 tỷ đồng ở cuối tháng 6/2018.

TPBank: Nợ xấu và kinh phí tăng đều

Đối có TPBank, ngân hàng này cũng ghi nhận mức tăng mạnh về nợ xấu lên 1,24% so có mức 1,17% trong 6 tháng đầu năm 2018 và 0,91% trong 9 tháng đầu 2017. Tỷ lệ kinh phí/thu nhập (CIR) trong 9 tháng đầu năm tăng lên 49% do kinh phí tăng mạnh. Khoản lỗ từ các làm việc chuyển nhượng ngoại tệ và không có thu nhập bất thường từ việc thu hồi nợ xấu phần nào khiến tổng thu nhập từ làm việc trong quý 3/2018 giảm 4,8% so có quý trước. Ngoài ra, tổng kinh phí làm việc 9 tháng đầu năm tăng mạnh 59% so có cộng kỳ năm ngoái lên 1,9 nghìn tỷ đồng, trong đây kinh phí thu nhập cho nhân viên chiếm 58%.

TPBank không ghi nhận khoản nợ xấu nào được xử lý trong quý 3. So có quý 2, nợ nhóm 3 và 4 tăng lần lượt 47% và 11% trong khi nợ nhóm 5 giảm 14%. Tỷ lệ dự phòng trên tín dụng gộp tăng từ 1,16% lên 1,23%. Chi phí dự phòng 9 tháng đầu năm không đổi, trong đây có 206 tỷ đồng được ghi nhận dự phòng cho trái phiếu VAMC. Trong 9 tháng đầu năm, mật độ nợ xấu được xử lý trên tổng cho vay bạn của TPBank là 0% so có 0,1% trong năm 2017.

HD Bank: Không phát sinh nợ xấu mới

Trái ngược có các ngân hàng trên, trong 9 tháng đầu năm HDBank chỉ trích lập 9,6 tỷ đồng dự phòng cụ thể và 134 tỷ đồng dự phòng chung. Tỷ lệ nợ xấu được kiểm soát ở mức rất thấp, chỉ là 1,07% (cuối năm 2017 là 1,10% có 141 tỷ đồng nợ xấu hình thành mới).

Nợ nhóm 2 chỉ chiếm 0,98% tổng dư nợ (cuối năm 2017 là 1,31%) và dư nợ nhóm này giảm 151 tỷ đồng.

Như vậy, HDBank hầu như không phát sinh nợ xấu mới trong 9 tháng đầu năm nay, dù cho vay bạn tăng 16,5% so có đầu năm. Xu hướng này khá trái ngược có ở các ngân hàng khác. Đây là kết quả từ cách tân cơ cấu cho vay có trọng tâm là vào cho vay chuỗi giá trị nông nghiệp và chế biến thức ăn, thay vì cho vay tiêu dùng và mua nhà. Nợ xấu đã xử lý bằng dự phòng rủi ro trích lập trong 9 tháng đầu đạt 528 tỷ đồng, chiếm 0,4% dư nợ tín dụng, so có 383 tỷ đồng cộng kỳ năm ngoái (0.4% dư nợ).

Mặc dù vậy, doanh nghiệp con của HDBank là HD Saison co mật độ nợ xấu là 6,24% (cuối năm ngoái là 5,74%). Nợ nhóm 2 tăng nhẹ từ 6,03% lên 6,48%. Như vậy dư nợ nhóm 2-5 của HD Saison đã tăng thêm 195 tỷ đồng.

ACB: Nỗ lực giảm nợ xấu

Trong số các ngân hàng thương mại, ACB là ngân hàng cho thấy rất nhiều nỗ lực trong việc xử lý nợ xấu trong các năm qua. Tính đến cuối quý 3, nợ xấu ở ACB duy trì ở mức thấp đạt 0,84% (so có 0,78% trong 6 tháng đầu năm 2018 và 1,04% trong 9 tháng đầu năm 2017).

Các khoản xử lý nợ không đáng kể trong 9 tháng 2018 dẫn đến mật độ nợ xấu tăng 5 điểm căn bản so có quý trước. Nợ nhóm 5 tăng 23%, khi nợ nhóm 3 và 4 giảm 14%, so có quý 2/2018.

Tỷ lệ dự phòng/khoản vay gộp tăng từ 0,74% lên 1,08%.

Tính đến hết 6 tháng đầu năm 2018, có 135 tỷ đồng trong khoản phải thu liên quan đến “Nhóm 6 Công ty” của bầu Kiên.

Sacombank: Nợ xấu giảm vẫn đứng đầu bảng

Tại Sacombank, mật độ nợ xấu chính thức giảm còn 3,2% tính đến cuối quý 3/2018. Tuy nhiên, ước tính con số nợ xấu nội bảng chỉ dao động 10% tổng tài sản có vấn đề. Khoản phải thu giảm còn 14%, nhưng biến động khá trầm lắng trong quý 3/2018 so có quý trước có mức giảm 1%. Lãi dự thu tính theo phần trăm khoản vay gộp giảm từ 11,1% vào đầu năm 2018 còn 9,5% trong quý 3/2018, trong khi cán cân nợ VAMC ghi nhận mức giảm 6% kể từ đầu năm.

Nợ Nhóm 1 tăng nhanh hơn so có mức tăng trưởng cho vay kể từ đầu năm và giảm so có tỷ trọng lãi dự thu, cho thấy chất lượng nợ Nhóm 1 đã tốt hơn. Các hệ số này cho thấy rằng hệ số chất lượng tài sản của Sacombank đang cải thiện khi càng ngày càng có nhiều hơn bạn nợ nhóm 1 chi trả đúng hạn.

Đối có VPBank, khoản nợ đã xử lý ròng so có cộng kỳ, bao gồm khoản đã thu hồi, trên khoản vay gộp trong 9 tháng đầu năm 2018 hạ nhiệt còn 3,7% so có 44% trong 6 tháng đầu năm 2018. Thu nhập 9 tháng đầu năm 2018 từ thu hồi các khoản nợ đã xử lý tăng 142% so có cộng kỳ năm ngoái, tương ứng có 22% khoản nợ đã xử lý trong cộng GĐ.

Tìm hiểu thêm https://duanoriggarden.com/