Tiền lương, thưởng Tết tháng thứ 13 có phải nộp thuế?

Sắp đến Tết Nguyên đán, người lao động ở nhiều cơ quan, doanh nghiệp thường được thưởng Tết bằng tháng lương bổng thứ 13. Vậy, tháng lương bổng 13 được tính vào thuế lương bổng doanh nghiệp và thuế lương bổng cá nhân như thế nào?
Khoản lương bổng lương bổng tháng thứ 13 của người lao động thuộc khoản lương bổng chịu thuế TNCN từ tiền lương bổng, tiền công của cá nhân.

Theo Cục Thuế TP. Hà Nội, Điều 103 Bộ luật lao động số 10/2012/QH13 quy định, tiền thưởng là khoản tiền mà người sử dụng lao động thưởng cho người lao động căn cứ vào kết quả sản xuất kinh doanh hằng năm và mức độ đã đi vào làm việc công việc của người lao động. Quy chế thưởng do người sử dụng lao động chọn lọc và ra mắt công khai ở nơi làm việc sau khi xem xét ý kiến của tổ chức đại diện tập thể lao động ở cơ sở.

Điều 2 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính giải đáp thực hiện Luật Thuế lương bổng cá nhân (TNCN), Luật sửa đổi, bổ sung 1 số điều của Luật Thuế TNCN và Nghị định số 65/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định lương bổng từ tiền lương bổng, tiền công là lương bổng người lao động nhận được từ người sử dụng lao động, bao gồm: Tiền lương bổng, tiền công và một vài khoản có tính chất tiền lương bổng, tiền công dưới một vài hình thức bằng tiền hoặc không bằng tiền.

Thu nhập từ đầu tư vốn gồm, lợi tức nhận được do tham dự góp vốn vào doanh nghiệp trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp hợp danh, hợp tác xã, liên doanh, hợp đồng hợp tác kinh doanh và một vài hình thức kinh doanh khác theo quy định của Luật Doanh nghiệp (DN) và Luật Hợp tác xã; lợi tức nhận được do tham dự góp vốn thành lập tổ chức tín dụng theo quy định của Luật một vài tổ chức tín dụng; góp vốn vào Quỹ đầu tư chứng khoán và quỹ đầu tư khác được thành lập và làm việc theo quy định của pháp luật; Thu nhập từ cổ tức trả bằng cổ phiếu, lương bổng từ lợi tức ghi tăng vốn.

Điều 4 Thông tư số 96/2015/TT-BTC ngày 22/6/2015 của Bộ Tài chính giải đáp về thuế lương bổng DN (TNDN) ở Nghị định số 12/2015/NĐ-CP ngày 12/2/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung 1 số điều của một vài Luật về thuế và sửa đổi bổ sung 1 số điều của một vài Nghị định về thuế quy định như sau: Các khoản chi không được trừ khi xác định lương bổng chịu thuế bao gồm chi tiền lương bổng, tiền công, tiền thưởng cho người lao động thuộc 1 trong một vài trường hợp:

Các khoản tiền lương bổng, tiền thưởng, chi mua bảo hiểm nhân thọ cho người lao động không được ghi cụ thể điều kiện được hưởng và mức được hưởng ở 1 trong một vài hồ sơ như Hợp đồng lao động; Thỏa ước lao động tập thể; Quy chế tài chính của Công ty, Tổng doanh nghiệp, Tập đoàn; Quy chế thưởng do Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Giám đốc quy định theo quy chế tài chính của Công ty, Tổng doanh nghiệp.

Các khoản chi không tương ứng có doanh thu tính thuế, trừ một vài khoản chi có tính chất phúc lợi chi trực tiếp cho người lao động như: Chi đám hiếu, hỷ của chính mình và gia đình người lao động; chi nghỉ mát, chi hỗ trợ điều trị; chi hỗ trợ bổ sung kiến thức học tập ở cơ sở đào tạo; chi hỗ trợ gia đình người lao động bị ảnh hưởng bởi thiên tai, địch họa, tai nạn, ốm đau; chi khen thưởng con của người lao động có thành tích tốt trong học tập; chi hỗ trợ kinh phí di chuyển ngày lễ, tết cho người lao động; chi bảo hiểm tai nạn, bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm tự nguyện khác cho người lao động và các khoản chi có tính chất phúc lợi khác. Tổng số chi có tính chất phúc lợi nêu trên không quá 1 tháng lương bổng bình quân thực ở thực hiện trong năm tính thuế của DN.

Khoản 6 Điều 11 Thông tư số 92/2015/TT-BTC ngày 15/6/2015 của Bộ Tài chính giải đáp thực hiện thuế giá trị tăng thêm và thuế TNCN đối có cá nhân cư trú có làm việc kinh doanh; giải đáp thực hiện 1 số nội dung sửa đổi, bổ sung về thuế TNCN quy định ở luật sửa đổi, bổ sung 1 số điều của một vài luật về thuế quy định không tính vào lương bổng chịu thuế từ đầu tư vốn đối có lợi tức của DN tư nhân, doanh nghiệp trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên do cá nhân làm chủ.

Căn cứ một vài quy định trên, Cục Thuế TP. Hà Nội cho biết, trường hợp DN chi trả lương bổng tháng thứ 13 cho người lao động, nếu được ghi cụ thể điều kiện được hưởng và mức được hưởng ở 1 trong một vài hồ sơ như: Hợp đồng lao động; Thỏa ước lao động tập thể; Quy chế tài chính của Công ty, Tổng doanh nghiệp, Tập đoàn; Quy chế thưởng do Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Giám đốc quy định theo quy chế tài chính của Công ty, Tổng doanh nghiệp thì được hạch toán vào kinh phí hợp lý khi xác định thuế TNDN (không thuộc khoản chi có tính phúc lợi theo giải đáp ở Điều 4 Thông tư số 96/2015/TT-BTC nêu trên).

Khoản lương bổng lương bổng tháng thứ 13 của người lao động thuộc khoản lương bổng chịu thuế TNCN từ tiền lương bổng, tiền công của cá nhân.

Trường hợp cá nhân là thành viên góp vốn của doanh nghiệp phát sinh lương bổng từ lợi tức ghi tăng vốn thì thuộc đối tượng nộp thuế TNCN đối có làm việc đầu tư vốn trừ lợi tức của DN tư nhân, doanh nghiệp trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên do cá nhân làm chủ.

Tìm hiểu thêm https://duanoriggarden.com/